Hôm nay Sơn sau một chuỗi search lướt các kiểu về rượu thuốc, tổng hợp hệ thống lại một chút gởi lên anh em tham khảo, mong là anh em sẽ tiến hành thử ngâm rồi rủ nhau thí nghiệm xem có say không nhé. Rất nhiều người chỉ ước có một hầm toàn rượu các kiểu và đã làm được nhưng quên là cần phải biết cách dùng.
TỔNG QUAN VỀ RƯỢU THUỐC
1/ Khái niệm:
Rượu thuốc hay rượu dân tộc là tên gọi chỉ các loại rượu ngâm rất phổ biến trong hệ thống đồ uống của ẩm thực Việt Nam truyền thống, thường được quảng cáo là các loại rượu cường dương hay bổ âm. Rượu thường làm bằng rượu trắng nồng độ cao ngâm các nguyên liệu thảo dược hoặc động vật có dược tính theo các phương pháp cổ truyền, với ý nghĩa không chỉ để cho thực khách thưởng thức hương vị của rượu mà hầu hết sử dụng như một loại thuốc.
Hầu như gia đình nào ở Việt Nam cũng đều có một vài bình rượu thuốc trong nhà và có những bình được để rất lâu. Theo Đông y, rượu thuốc giúp đưa thuốc vào máu nhanh chóng, có tác dụng dưỡng huyết, bổ huyết, hoạt huyết, hòa huyết và thông kinh mạch. Do ít biến chất, dễ bảo quản, rượu thuốc rất thích hợp cho các bệnh lý mạn tính, phải điều trị dài ngày hoặc bồi bổ cơ thể trường kỳ “mưa dầm thấm lâu”.
Ưu điểm của rượu thuốc là chắt lọc được tinh chất, bảo quản thuốc được lâu và khử bớt độ độc của rượu. Thuốc để ngâm thường là thuốc bổ, có tác dụng nâng cao thể trạng, kích thích tiêu hóa an thần, nhuận tràng, chữa các chứng đau mỏi do phong hàn, phong thấp. Tuy nhiên, những người âm hư hỏa vượng không nên dùng các loại thuốc này.
2/ Cách làm:
Một cách đơn giản ngắn gọn trong cách làm là: nguyên liệu được sơ chế, rửa sạch và cho vào ngâm trực tiếp với rượu nồng độ cồn cao. Nút kín một thời gian sau (thường khoảng 100 ngày trở lên) có thể đem dùng.
Đối với rượu thuốc trị bệnh để có hiệu quả điều trị rõ rệt thì phải nắm vững phương pháp bào chế chính xác. Có thể theo các bước như sau:
· Chọn công thức bào chế tốt
Tự bào chế rượu thuốc phải chọn công thức bào chế rượu thuốc tốt an toàn đáng tin cậy, thích hợp với gia đình tự bào chế. Thường người dùng cần được khám tỉ mỉ và chẩn đoán bệnh chính xác. Dựa trên kết quả khám, bác sĩ Đông y mới chọn các thứ thuốc phù hợp. Ngay cả khi ngâm thuốc bổ, người cắt thuốc cũng cần nắm được các đặc điểm về tuổi tác, giới tính, thể chất của người dùng, nghĩa là phải xác định được phần nào hư yếu (âm hư, dương hư, khí hư hay huyết hư) và phủ tạng nào cần bồi bổ (tâm, can, tỳ, phế, thận).
Trong các thang thuốc có nhiều vị thuốc kết hợp thường đủ bốn thành phần: Quân, Thần, Tá, Sứ. Quân (vị thuốc chủ trị chữa bệnh hoặc bổ dưỡng), Thần (là vị thuốc trợ giúp để phát huy tối đa công dụng của vị thuốc Quân), Tá (là vị thuốc tá dược giúp rượu thuốc dễ uống hơn), Sứ (vị thuốc sứ giả có công dụng đưa đường vị chủ trị đến được đúng bệnh cần chữa hoặc đến đúng nơi cần bồi bổ).
Có một số công thức bào chế không thích hợp với tự bào chế, như một số Đông dược có độc tính, thì cần phải bào chế xong mới dùng được, gia đình nói chung không có điều kiện bào chế thuốc có độc tính. Có một số phương thuốc lưu truyền trong dân gian, nếu muốn bào chế rượu thuốc, trước hết phải hỏi kỹ thầy thuốc, làm rõ dược tính và phạm vi sử dụng, để tránh uống nhầm và dẫn đến trúng độc.
Phương thuốc Đông dược dân gian, trước hết phải biết rõ tên loại thuốc và quy cách, đề phòng loại cây cùng tên mà khác thuốc hoặc cùng thuốc mà khác tên.
- Chữa nhức mỏi xương khớp: Thiên niên kiện, xuyên khung, ngưu tất, bạch chỉ, độc hoạt, khúc khắc, khương hoạt, rắn...
- Bổ máu: Đương qui, hà thủ ô, kỷ tử, thục địa, quả dâu...
- Bổ thận: Đỗ trọng, ba kích, ích trí nhân, thỏ ty tử, kim anh, khiếm thực, tắc kè, nhung hươu, tục đoạn, dâm dương hoắc, rễ cau.
- An thần dễ ngủ: Long nhãn, táo tàu, hạt sen, viễn chí, hà thủ ô.
- Bổ khí: Mạch môn, hoàng kỳ, nhân sâm.
- Kiện tỳ, ăn ngon miệng: Bạch truật, hoài sơn, hạt sen.
- Có vị thuốc làm cho rượu có vị chua như: sơn tra, sơn thù, kim anh, bạch thược... Có thứ làm rượu tăng vị ngọt như long nhãn, thục địa, đại táo, cam thảo, la hán, cỏ ngọt. Đa số động vật ngâm rượu đều có vị tanh như bìm bịp, rắn, trăn, tắc kè, mật gấu...
- Thuốc để ngâm thuốc rượu bôi ngoài thường là những vị có nhiều tinh dầu, vị nóng ấm như: hồi, quế, phụ tử, gừng, ô đầu, tinh dầu bạc hà, màng tang, long não... Cũng có khi dùng các vị thuốc hạ huyết phá ứ như hồng hoa, địa liền, xuyên khung, huyết giác, kê huyết đằng, nhũ hương, mộc dược..
· Xử lý cây lá thuốc
Dược liệu ngâm rượu nhất thiết phải qua giai đoạn bào chế. Trước hết, cần loại bỏ tạp chất, rửa sạch, sấy khô. Sau đó có thể sao thơm, thái phiến, nghiền nhỏ hay đập vụn... tùy từng vị. Nói chung nguyên liệu dược bào chế rượu thuốc dạng vỏ, cành, rễ thuốc, đều cắt thành miếng dày khoảng 3 ly; rễ cây cỏ thì cắt thành chiều dài 3cm; nếu là hạt thì giã nát, có một số loại dược liệu phải qua xử lý bào chế. Công đoạn này rất quan trọng, quyết định chất lượng của rượu thuốc, giúp cho các hoạt chất được chiết xuất dễ dàng.
· Chọn rượu
Chọn rượu dưới 60o là thích hợp, sẽ có lợi cho thành phần dược liệu thấm ra. Loại rượu thường dùng là rượu trắng khoảng 40-60 độ, được cất từ gạo, ngô, cao lương, khoai... Nếu có điều kiện thì chọn loại rượu danh tiếng như Mao Đài, Phượng Tường, Thiệu Hưng, Phần Dương (của Trung Quốc) hoặc Lúa Mới, Làng Vân, Nếp Mới (của Việt Nam). Rượu càng cao độ thì càng dễ chiết xuất hoạt chất từ dược liệu và càng dễ bảo quản. Tuy nhiên, một số loại rượu thuốc do yêu cầu điều chế đặc thù hoặc người không uống được rượu nên có thể dùng loại rượu nhẹ hơn để ngâm nhưng thời gian ngâm phải dài hơn. Tỷ lệ rượu và dược liệu: Lượng rượu nhiều hay ít tùy thuộc vào độ hút nước của dược liệu. Những dược liệu có độ hút nước lớn thì lượng rượu nên cao hơn một chút, tỷ lệ dược liệu/rượu khoảng 1/10. Ngược lại, với những dược liệu ít hút nước thì tỷ lệ này chỉ khoảng 1/5. Có như vậy mới bảo đảm chiết xuất được hết các hoạt chất trong dược liệu, rượu không dễ biến chất và đạt được độ ngon cần thiết.
3/ Phương pháp ngâm tẩm
· Phương pháp ngâm tẩm lạnh.
Là cách hay dùng nhất, áp dụng với đa số dược liệu. Bỏ trực tiếp dược liệu sau khi bào chế vào trong bình sứ hoặc thủy tinh có nắp đậy kín, cho lượng rượu thích hợp, đặt bình ở nơi tối, mát, hàng ngày lắc hoặc lấy đũa quấy 1-2 lần, ngâm sau 7 ngày, có thể mỗi tuần lắc hoặc quấy 1 lần, số lần lắc quấy nhiều, thì thuốc tan ra càng tốt. Thời gian ngâm tẩm thường là trên một tháng, Mùa đông có thể ngâm lâu hơn một chút. Nếu rượu ngâm lâu mới dùng thì không cần lắc khuấy. Sau đó rót ra ép bã ra lấy dung dịch rượu để qua đêm thanh vắng, chỗ yên tĩnh, lấy vải lọc ra là dùng được. Nếu liên tục ngâm tẩm, bã không cần phải ép, có thể cho thêm rượu tiếp tục ngâm. Loại thuốc bổ điều tiết thân có nhân sâm, hoàng kỳ, đương quy và cát bì (cát cánh). Rượu thuốc đã pha chế cần cho thêm đường mật, có thể cho đường vào rượu đun nóng hòa tan, dung dịch rượu và đường hỗn hợp lại và quấy đều qua lọc là có thể dùng được.
· Phương pháp ngâm tẩm nóng.
Thường áp dụng cho các dược liệu có cấu tạo rắn chắc, khó chiết xuất và có khả năng chịu nhiệt. Bỏ thuốc và rượu vào dụng cụ thích hợp, đậy kín, đun cách thủy cho đến khi sôi nước hoặc theo một thời gian quy định nhưng không nên quá lâu, nếu không rượu sẽ bốc hơi hết, rồi đổ ngay sang bình ngâm. Đậy kín và tiếp tục ngâm trong 7-10 ngày như ngâm lạnh. Ưu điểm của phương pháp này là, vừa có thể tăng nhanh tốc độ ngâm tẩm, lại vừa có thể làm cho thành phần của thuốc dễ tan và tan ra nhiều.
· Phương pháp khác:
Dân gian còn thực hiện ngâm hạ thổ, nghĩa là chôn bình ngâm đã trát kín xuống đất hàng trăm ngày. Cách này thường áp dụng cho các rượu thuốc có dược liệu là động vật. Ngoài các phương pháp trên còn có các phương pháp ủ, đun, phun, tôi... nhưng ít được sử dụng.
4/ Các dạng rượu ngâm
· Rượu ngâm thảo dược
Thảo dược (thuốc Nam, thuốc Bắc) được sơ chế và ngâm trong rượu. Có rất nhiều loại rượu ngâm với các loại thảo dược, thường theo hai phương thức: hoặc ngâm rượu riêng từng loại hoặc ngâm hỗn hợp theo các bài thuốc cổ truyền.
Trong thực tế, tùy địa phương, vùng miền có nhiều bí quyết ngâm rượu riêng, tuy nhiên người ta thường thấy rượu được ngâm với dâm dương hoắc, sâm các loại, kỷ tử, táo tàu, cùi nhãn, cùi vải, củ và rễ đinh lăng, cây mật gấu, thục, ba kích, chuối hột, mơ, tầm gửi (đặc biệt tầm gửi gỗ nghiến), quế chi, xuyên khung, nhục thung dung, hà thủ ô v.v.
Một số bài thuốc cổ truyền ngâm rượu đã trở nên nổi tiếng vì hiệu quả, như rượu Minh Mạng thang.
· Rượu ngâm động vật
Các loại động vật hoặc một phần của động vật được ngâm rượu, ngoại trừ những loại đã được kiểm nghiệm là có dược tính cao độ (rắn, tắc kè, bìm bịp, hổ cốt, cá ngựa...), nhiều loại chỉ được ngâm theo kinh nghiệm với nguyên tắc y học cổ truyền "đồng tạng trị liệu" (phương thức chữa bệnh dựa trên cơ sở dùng phần nào của cơ thể động vật làm thuốc hay thức ăn sẽ bổ cho phần cơ thể đó của con người), chẳng hạn dương vật hổ, tinh hoàn dê được ngâm rượu với ý nghĩa dùng để bổ dương. Các loại động vật hầu hết được ngâm sống, chỉ sơ chế qua và không nấu chín. Cá biệt có một số loại được ngâm nguyên con.
- Rượu ngâm nguyên con thường gặp rượu rắn ngâm theo số lẻ một con (thường là rắn hổ mang, hổ chúa), 3 (rắn hổ mang, rắn ráo, rắn cạp nong), 5 con hoặc nhiều hơn; rượu tắc kè; rượu bìm bịp, rượu chim sẻ, rượu cá ngựa, rượu ong đất, rượu ong bò vẽ (có thể ngâm nguyên cả mảng sáp tổ ong với mật, phấn hoa, nhộng và con ong hoặc ngâm con ong riêng); rượu hải long (rồng biển, sao biển); rượu tằm; rượu sâu chít, rượu hải sâm, rượu sò huyết, rượu ngán v.v.
- Rượu ngâm từng phần tạng phủ động vật: rượu ngâm bào thai (dê, bê, hổ, khỉ), tinh hoàn và dương vật (dê, hải cẩu, hổ), tiết động vật (rắn, dê), mật (mật gấu, mật rắn, mật trăn), óc (khỉ), tay (gấu) v.v.
- Rượu ngâm các loại cao động vật: cao xương hoặc cao toàn tính (nấu cao cả xương và thịt động vật) được ngâm với rượu, thường thấy rượu cao hổ cốt, rượu cao khỉ, rượu cao trăn, rượu cao sơn dương v.v.
· Các loại rượu khác
Trong thực tế thường gặp là các loại rượu ngâm hỗn hợp cả động vật và thực vật. Một số loại rượu ngâm động vật rất tanh (như rượu rắn) tuy ngâm riêng nhưng khi uống vẫn thường được pha với các loại rượu thực vật có tinh dầu thơm (như quế chi) để át mùi tanh.
5/ Cách dùng:
Tùy theo bệnh tình và tính chất, nồng độ của rượu mà uống mỗi ngày 1-3 lần, mỗi lần 10-30 ml. Những người uống được ít hoặc không biết uống rượu thì trước đó nên dùng một chút nước giải khát các loại. Để tăng hiệu quả điều trị, một số loại thuốc cần được đun nóng trước khi uống.
Rượu thuốc có thể được dùng ngoài bằng cách xông, xoa bóp, bôi, đắp, rửa, ngâm... tùy theo bệnh tình, tính chất của rượu và vị trí tổn thương.
Lưu ý:
Do rượu thuốc có tính cay, nhiệt nên những người thể chất âm hư, hỏa vượng và bị nhiệt bệnh không nên dùng.
Thuốc ngâm rượu bất kể là thuốc trị bệnh hay thuốc bổ đều phải nắm được các đặc điểm của người dùng như độ tuổi, giới tính, thể chất… nghĩa là phải biết được đúng phần nào hư yếu: Dương hư hay âm hư, khí hư hay huyết hư…rồi phủ tạng nào cần bồi bổ: Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận. Người lương y phải dựa vào thể của người dùng thuốc để cắt thang thuốc cho phù hợp, và hướng dẫn liều lượng uống cho thích hợp. Không có loại thuốc nào dùng để ngâm rượu mà ai cũng có thể uống được với cách nghĩ không bổ âm thì bổ dương như nhiều người sử dụng rượu thuốc suy luận.
Theo lương y Vũ Quốc Trung: “Dùng rượu thuốc phải tuân thủ nguyên tắc dùng thuốc biện chứng luận trị của Đông y. Người thiên về dương hư nên chọn thuốc bổ dương, người thiên về âm hư nên chọn thuốc bổ âm, người thiên về huyết hư nên chọn dùng thuốc bổ khí, người thiên về huyết ứ trệ nên chọn dùng thuốc hoạt huyết tiêu ứ, người thiên về ngưng khí nên chọn dùng thuốc lợi khí, giải uất, tiêu ngưng trệ, người cả âm dương đều hư nên điều hòa âm dương, ngoài cả khí huyết đều hư nên chọn khí huyết bổ cho hai bên, người bị phong thấp nên thanh nhiệt lợi ẩm, người bị lãnh cung yếu đuối nên ôn dương noãn cung, người mà mạch xung nhâm không điều hòa nên điều bổ mạch xung nhâm. Tóm lại nên căn cứ vào biểu hiện cụ thể của người bệnh chọn các vị thuốc thích hợp mới có thể thu được hiệu quả.
Nếu dùng nhầm sẽ không những chẳng ích lợi gì mà còn gây hại cho sức khỏe “lợi bất cập hại”. Chỉ cần nói đơn giản người mắc bệnh hàn hoặc cơ địa hàn mà dùng thuốc hàn (lạnh) thì sẽ “hàn ngộ hàn tắc tử” hoặc người mắc bệnh nhiệt hoặc có cơ địa nhiệt mà dùng thuốc nhiệt sẽ dẫn tới hậu quả “Nhiệt ngộ nhiệt tắc cuồng”. Bởi thế không thể nói có chuyện rượu thuốc bổ ai uống cũng được”.
Rượu bổ âm
Là loại rượu dùng cho những người bị bệnh thuộc thể Âm hư hoặc có thể chất thiên về âm hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như người gầy, miệng ráo họng khô, hay hoa mắt chóng mặt, mất ngủ, hay mộng mị, ra mồ hôi trộm, lòng bàn tay và bàn chân nóng, hay có cảm giác sốt nóng về chiều, gò má đỏ, di tinh, ù tai, đại tiện táo, tiểu tiện lượng ít sắc vàng, lưỡi khô đỏ, ít hoặc không có rêu...
Ví dụ : Thần tiên diên thọ tửu, Thiên môn đông tửu, Tang tằm tửu (rượu tằm), Địa hoàng tửu, Địa hoàng thủ ô tửu, Tư âm dưỡng huyết tửu, Hà thủ ô tửu, Kỷ tử tửu, Ô tu tửu (rượu làm đen râu tóc), Bồ đào tửu (rượu nho)... Những người có chứng dương hư không nên dùng loại rượu này.
Rượu bổ dương
Còn gọi là rượu trợ dương, tráng dương hoặc khởi dương, là loại rượu dùng cho người bị bệnh thuộc thể Dương hư hoặc có thể chất thiên về dương hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như hay sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng bệch, mệt mỏi như mất sức, dễ đổ mồ hôi, hay có cảm giác khó thở, ngại nói, miệng nhạt, không khát, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng nát, hay bị cảm lạnh, di tinh, liệt dương, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng...
Ví dụ: Minh mạng tửu, Lộc nhung tửu (rượu nhung hươu), Hải cẩu thận tửu, Ba kích tửu, Dâm dương hoắc tửu, Dương cao tửu (rượu thịt dê), Dương thận tửu (rượu cật dê), Trợ dương tửu, Hổ cốt tửu, Cáp giới tửu (rượu tắc kè), Hải mã tửu (rượu cá ngựa)... Những người có chứng âm hư không nên dùng các loại rượu này.
Rượu bổ huyết
Là loại rượu dùng cho những người bị bệnh thuộc thể Huyết hư hoặc có thể chất thiên về huyết hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như sắc mặt nhợt nhạt, hay hoa mắt chóng mặt, tim hồi hộp, mất ngủ, tay chân tê bì, phụ nữ kinh nguyệt không đều, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng... Ví dụ: Tang thầm tửu (rượu dâu), Từ quốc công tiên tửu (rượu long nhãn), Đương quy tửu, Hà thủ ô tửu, Kê huyết đằng tửu, Diên linh tửu, Trú nhan tửu, Nguyên thầm tửu, Từ quốc công tiên tửu...
Rượu bổ khí
Là loại rượu dùng cho những người bị bệnh thuộc thể Khí hư hoặc có thể chất thiên về khí hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như tinh thần mỏi mệt, khó thở, ngại nói, sắc mặt trắng nhợt, đầu choáng mắt hoa, hay hồi hộp trống ngực, dễ đổ mồ hôi, ăn kém chậm tiêu, đại tiện lỏng, tiểu tiện trong dài, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng...Ví dụ: Nhân sâm tửu, Đẳng sâm tửu, Tây dương sâm tửu, Sâm truật tửu, Hoàng kỳ tửu, Bạch truật tửu, Nhân sâm cố bản tửu, Hoàng tinh tửu...
Tuy nhiên, trên thực tế, bệnh trạng thường đan xen với nhau nên người ta hay phối hợp các loại rượu để tạo nên công dụng song bổ. Ví như, các loại rượu Ích thọ tửu, Cố bản địa hoàng tửu, Khước lão tửu, Trường xuân tửu, Bổ khí dưỡng huyết tửu, Dưỡng vinh tửu, Sâm quy tửu, Nhân sâm câu kỷ tửu, Diên thọ tửu, Bát trân tửu, Thập toàn đại bổ tửu, Phù nhược tiên phượng tửu... thường là sự kết hợp giữa thuốc bổ âm và bổ dương, hoặc bổ khí và bổ huyết.